Thuốc tiêm tránh thai: Cách sử dụng và xử lý tác dụng phụ

0
13
Rate this post

Thuốc tiêm tránh thai đã được nghiên cứu từ những năm 60 và bắt đầu được bán rộng rãi từ đầu những năm 70 cho đến nay, đã có khoảng 100 triệu phụ nữ ở hơn 90 quốc gia sử dụng. Trước khi quyết định sử dụng phương pháp này, người dùng cần hiểu rõ về nó.

Các loại thuốc tiêm tránh thai

Có hai nhóm thuốc tiêm tránh thai:

  • Nhóm thứ nhất có thành phần progestin và estrogen.
  • Nhóm thứ hai chỉ có progestin. Trong nhóm này có loại DMPA (Depot Medroxy Progesteron Acetat) và NETEN (Norethidone Enanthat). Loại DMPA đã được phép và khuyến khích sử dụng ở nước ta từ năm 1990 cho đến nay và đã được triển khai ở hầu hết các tỉnh thành.

Ưu điểm của thuốc tiêm tránh thai DMPA:

  • DMPA ngăn chặn rụng trứng 100% và đồng thời ức chế tiết chất nhầy ở cổ tử cung rất mạnh, làm tinh trùng không thể xâm nhập vào buồng tử cung, từ đó giúp hiệu quả tránh thai cao (99,6%).
  • DMPA có liều cao (150mg/lần), hấp thu chậm và có hiệu lực kéo dài, chỉ cần sử dụng một lần có thể tránh thai trong 3 tháng, giống như việc đình chỉ sản xuất tạm thời.
  • DMPA không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, muốn có thai lại chỉ cần ngừng sử dụng vài tháng.
  • DMPA duy trì và tăng sự tiết sữa, chỉ tiết một lượng rất nhỏ (0,02 – 0,08 µg/kg/ngày) vào sữa. Trẻ bú sữa mẹ dùng DMPA sẽ có sự phát triển chiều cao, cân nặng và trí tuệ bình thường. Thích hợp với người cho con bú.
  • DMPA có thể gây rối loạn kinh nguyệt, mất kinh, kinh không đều, kinh nhiều, do đó không nên sử dụng cho người bị rối loạn kinh nguyệt hoặc có hiện tượng chảy máu bất thường không rõ nguyên nhân.
  • DMPA không gây rối loạn về mạch máu, huyết áp, không ảnh hưởng đến việc sản xuất steroid và miễn dịch, không gây phù, không làm phát triển u xơ tử cung, do đó có thể sử dụng cho người có u xơ tử cung. DMPA cũng có thể sử dụng cho người có bệnh van tim chưa có biến chứng nhưng không nên sử dụng cho người bị bệnh tim nặng như nhồi máu cơ tim và viêm tắc tĩnh mạch.

Trường hợp không được dùng thuốc tiêm tránh thai

  • Chưa đủ 16 tuổi.
  • Có thai hoặc nghi có thai. Nếu nghi thì phải kiểm tra chắc chắn không có thai mới được sử dụng.
  • Đang bị ung thư vú hoặc ung thư vú đã khỏi.
  • Có u ở vú chưa được xác định (kể cả u lành nhưng chưa chữa khỏi).
  • Có ung thư buồng trứng.
  • Có xuất huyết bất thường.
  • Có các bệnh nội tiết.
  • Có và đang dùng thuốc chữa động kinh (kể cả trường hợp có cơn co giật chưa được xác định).
  • Bị và đang dùng thuốc chữa lao.
  • Đang bị bệnh tim mạch (thiếu máu cục bộ) và tăng huyết áp.
  • Bị trầm cảm, nhức đầu do các nguyên nhân khác nhau (như thiên đầu thống).
  • Bị bệnh gan mật (kể cả vàng mắt vàng da chưa được xác định).
  • Bị các bệnh làm suy giảm miễn dịch (như nhiễm HIV).
  • Bị các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
  • Đã từng bị tác dụng phụ của thuốc tránh thai.

Một số tác dụng phụ của thuốc tiêm tránh thai và cách xử lý

Mất kinh khi tiêm thuốc tránh thai

  • Khi sử dụng DMPA chỉ có progestin, lượng progestin sẽ cao hơn estrogen so với tỷ lệ bình thường, dẫn đến niêm mạc tử cung không phát triển dày ra và bị bong, chảy máu không như thời kỳ kinh thông thường, gọi là hiện tượng mất kinh.
  • Khoảng 60% người dùng gặp hiện tượng này (kể cả những người chỉ gặp vài lần trong năm).
  • Hiện tượng này không gây hại cho sức khỏe hay sinh sản sau này, nên vẫn tiếp tục sử dụng DMPA.
  • DMPA có hiệu quả đến 96,6%, nên hiện tượng này thường không phải là dấu hiệu của việc có thai. Tuy nhiên, để chắc chắn, cần kiểm tra.
  • Trong trường hợp có thai (có thể đã có thai trước khi sử dụng DMPA mà không biết, hoặc do sử dụng DMPA mà không có hiệu quả, tuy rất hiếm), có thể quyết định giữ thai hoặc phá thai. Trong trường hợp muốn giữ thai, cần ngừng sử dụng DMPA và theo dõi thai như thường lệ vì việc sử dụng DMPA trước đó không gây hại cho thai.

Rong kinh khi tiêm thuốc tránh thai

  • Khi sử dụng DMPA, cũng có thể gặp hiện tượng rong kinh, rong huyết và băng kinh.
  • Rong kinh là kỳ kinh kéo dài (7 – 8 ngày) với lượng máu ra nhiều hơn hoặc bằng với kinh thường (50 – 80ml). Hiện tượng này thường chỉ xảy ra trong những lần tiêm đầu tiên của DMPA, sau đó sẽ giảm dần và đi vào ổn định, do đó vẫn nên tiếp tục sử dụng DMPA.
  • Rong huyết là xuất hiện một ít máu giữa các chu kỳ kinh. Hiện tượng này không nghiêm trọng và không cần điều trị, sẽ tự hết. Băng kinh là lượng máu nhiều hơn so với kinh thường, nhưng hiếm khi xảy ra.

Tăng cân do tiêm thuốc tránh thai

  • DMPA làm tăng cân nhanh chóng, thường tăng 5% trong vòng 6 tháng và tình trạng tăng cân vẫn tiếp tục kéo dài. Tới 25% phụ nữ trong khảo sát đã tăng tới 10kg sau 3 năm sử dụng DMPA.
  • Nếu sử dụng DMPA mà gặp tình trạng tăng cân nhanh chóng, nên tham khảo ý kiến bác sĩ và có thể chuyển sang phương pháp tránh thai khác.

Loãng xương do tiêm thuốc tránh thai

  • DMPA làm giảm độ kết dính của xương và gây loãng xương ở phụ nữ ở mọi độ tuổi, thường xảy ra nhanh chóng và trở nên tồi tệ khi sử dụng kéo dài hơn 2 năm. Tuy nhiên, khi sử dụng trong khoảng thời gian 2 năm, hiện tượng này hiếm khi xảy ra.

Tâm trạng thất thường do sử dụng thuốc tiêm tránh thai

  • DMPA có thể làm thay đổi tâm trạng của người dùng giống như khi mang thai (buồn, giận, chán nản, mệt mỏi), nhưng chỉ trong thời gian ngắn. Nếu tình trạng này kéo dài, cần điều trị.
  • Ngoài ra, nhức đầu, đau bụng dưới, cương vú, buồn nôn nhưng không nghiêm trọng, có thể xử lý bằng các biện pháp thông thường.

Lưu ý:
Những thông tin cung cấp trong bài viết của Dnulib chỉ mang tính chất tham khảo, không thay thế cho việc chẩn đoán hoặc điều trị y khoa. Người bệnh không được tự ý mua thuốc để điều trị. Để biết chính xác tình trạng bệnh lý, người bệnh cần đến bệnh viện để được bác sĩ thăm khám trực tiếp, chẩn đoán và tư vấn phác đồ điều trị hợp lý.

Theo dõi fanpage của Dnulib để biết thêm thông tin bổ ích khác.