Luật Danh pháp và cách đọc tên khoa học các loài cây

0
44
Rate this post

Nhiều người vấp phải khó khăn khi tiếp cận với khoa học nói chung và khoa học thực vật nói riêng. Trong phạm vi hẹp, chúng tôi muốn cung cấp hỗ trợ cho bạn đọc, đặc biệt là học sinh, sinh viên trong các lĩnh vực liên quan đến tên khoa học của thực vật qua bài viết dưới đây.

Cách gọi tên cây

Danh pháp thực vật đã xuất hiện từ năm 1753, khi công trình “Species Plantarum” của Carl Linnaeus được xuất bản lần đầu tiên. Từ đó, các quy tắc về danh pháp đã được khẳng định thông qua các hội nghị quốc tế về thực vật học trên thế giới, bắt đầu từ Hội nghị Paris (1867). Hiện nay, chúng ta biết rằng giới thực vật được chia thành các đơn vị bậc:

  • Ngành và phân ngành
  • Lớp và phân lớp
  • Bộ và phân bộ
  • Họ và phân họ
  • Tông và phân tông
  • Chi và phân chi
  • Tổ và phân tổ
  • Loạt và phân loạt
  • Loài và phân loài
  • Thứ và phân thứ hoặc giống trồng
  • Dạng và phân dạng

Trong đó, bậc phân loại loài các đơn vị cơ bản (Ngành, Lớp, Bộ và Họ) và tiếp đó là bậc chi (trước đây dùng chữ giống) là thông dụng nhất.

Quy tắc chung

  • Tên khoa học gồm ít nhất 2 tên (chi và loài). Tên cây phải được viết bằng chữ La tinh. Tên La tinh là bắt buộc đối với các chi, loài, thứ, các bậc dưới chi, loài và thứ. Tên La tinh thường được viết nghiêng. Các bản mô tả gốc của các họ, phân họ, tông, phân tông, chi, phân chi, tổ, phân tổ, loạt, phân loạt… loài và các bậc dưới loài phải viết bằng chữ La tinh.
  • Hiện nay, các nhà thực vật thường sử dụng các chữ “taxa”, “taxanomia” lấy từ chữ Hy Lạp “taxis” có nghĩa là xắp xếp và “monos” có nghĩa là tên. Thuật ngữ này thường được viết tắt thành “taxa” ở số nhiều và “taxon” ở số ít. Để phân loại cây cỏ, người ta đặt ra một loạt các bậc với sự sắp xếp các tên để hạn định các bậc “taxa” như sau:

Thuật ngữ cho các bậc phân loại từ Ngành đến Tông:

  • Divisio: Ngành, -phyta (ở thực vật có chồi, Tảo), -myceta (ở Nấm)
  • Subdivisio: Phân ngành, -phytina (ở thực vật có chồi, Tảo), -mycetina (ở Nấm)
  • Classis: Lớp, -mycetes (ở Nấm), -phyceae (ở Tảo), -lichenes (ở Địa y), -opsida (ở thực vật có chồi)
  • Subclassis: Phân lớp, -mycetidae (ở Nấm), -phycideae (ở Tảo), -idae (ở thực vật có chồi)
  • Ordo: Bộ, -ales
  • Subordo: Phân bộ, -ineae
  • Familia: Họ, -aceae
  • Subfamilia: Phân họ, -oideae
  • Tribus: Tông, -eae
  • Subtribus: Phân tông, -inae

Người ta còn đặt thêm bậc phụ với tiếp tiền tố “super” và có tiếp vị tố cụ thể ứng với từng bậc đi kèm, ví dụ như “superordo” – liên bộ với tiếp vị tố là “-anae”.

Về nguyên tắc, các tên của các bậc từ ngành đến phân lớp được cấu tạo bằng một tên có nguồn gốc Hy Lạp viết dưới dạng La tinh. Tên bộ được cấu tạo từ tên Họ thuộc bộ đó và tên Họ của từ gốc của tên chi điển hình hoặc một tên đồng nghĩa. Do đó, khi biết một tiếp tố được thêm vào gốc, ta có thể biết được bậc của taxon hay tên đó.

Nếu tên của một họ là một tính từ số nhiều dùng như một danh từ, tên của chi là một từ danh từ hoặc một tính từ dùng như một danh từ và luôn luôn ở số ít. Tên của các bậc phân loại lớn hơn loài đều phải viết in hoa.

Ví dụ:

  • Bậc phân loại: Tên Việt Nam: Tên La tinh
  • Chi: Mộc lan: Magnolia
  • Họ: Mộc lan: Magnoliaceae
  • Bộ: Mộc lan: Magnoliales
  • Lớp: Mộc lan: Magnoliopsida
  • Ngành: Mộc lan: Magnoliophyta

Các bậc dưới chi

  • Subgenus: Phân Chi: subg.

  • Sectio: Nhánh (Tổ): sect.

  • Subsectio: Phân tổ: subsect.

  • Series: Loạt

  • Subseries: Phân loạt

  • Species: Loài: sp.

  • Subspecies: Phân loài: subsp.

  • Varietas: Thứ: var.

  • Subvarietas: Phân thứ: subvar.

  • Forma: Dạng: form.

  • Subforma: Phân dạng: subform.

Quy tắc riêng về tên cây

Viết tên cây

  • Tên chi, phân chi và tổ đều viết nghiêng, chữ đầu viết hoa, phần còn lại viết thường. Khi cần mô tả nhiều loài cùng một chi, người ta viết tắt tên chi bằng chữ viết hoa kèm theo dấu chấm. Tên loài được xác định bởi tên của chi kèm theo một tính ngữ, tên loài có thể gồm một từ hoặc hai từ nối liền nhau.

Ví dụ: Mộc lan lớn: Plantagor major, Cỏ ngổn ngang nước: Alisma plantago-aquatica.

  • Tính ngữ chỉ tên loài đều viết thường, không bao giờ viết hoa, ngay cả khi tên đó lấy từ tên người (đương đại hay trong thần thoại) hoặc tên địa phương.
  • Nếu gặp một loài chưa biết, người ta thường viết tắt tên loài bằng chữ viết tắt “sp.” (species), viết đứng. Nếu có nhiều loài thuộc cùng một chi nhưng không chỉ rõ loài nào, người ta có thể viết tắt thành “spp.”, có nghĩa species plurima (nhiều loài), hoặc “sp. plur.”.
  • Đối với tên phân loài, thứ và dạng cũng được cấu tạo dạng “subsp.” hay “ssp.”; “var.” và “form.” kiểu chữ đứng. Tên kèm theo các chữ viết tắt này viết nghiêng.

Ví dụ: Cỏ mứt đỏ: Setaria palmifolia var. rubra; Cây Thanh Điệp: Agapanthus inapertus ssp. pendulus

Tên tác giả

  • Một tên cây đầy đủ phải kèm theo tên của tác giả đã công bố nó. Tên tác giả viết theo hệ chữ cái La Mã (chữ đứng) và phải viết tắt trừ trường hợp tên rất ngắn. Tên viết tắt phải kèm theo dấu chấm, miễn sao tránh được sự nhầm lẫn giữa người này và người khác.

Ví dụ: L. (chỉ Carl Linnaeus); DC. (chỉ De Candolle); Guill. (chỉ Guillemin); Guillaum. (chỉ Guillaumin)

  • Nếu một tên chưa từng được công bố đã được công bố hợp pháp gắn với tên tác giả của nó, thì người ta phải ghi tên tác giả của nó. Đối với cây có nguồn gốc trồng trọt cũng vậy. Nếu là cây trồng nhưng không biết tên của người trồng tạo ra nó, thì thay vào tên tác giả, người ta viết chữ “Hort”.

Ví dụ: Rauvolfia chaudocensis Pierre ex Pitard, loài này cùng được Pierre và Pitard cùng công bố (ex: cùng) hợp pháp độc lập.

Calanthe argenteo-striata C. Z. Tang et S. J. Cheng, Loài này được C. Z. Tang và S. J. Cheng cùng công bố trong một bài báo (et: và) hợp pháp.

  • Nếu có một loài đã được mô tả và nêu tên, được chuyển sang một chi khác bởi một tác giả mới, thì tác giả sau phải giữ tên loài gốc (trừ những trường hợp trắc trở). Trong trường hợp này, danh pháp lưỡng nôm mới sẽ kèm theo tên của tác giả đã công bố nó trước đó, được đặt trong ngoặc đơn và tên của tác giả công bố sau đặt sau cùng.

Ví dụ: cây Nhọc trái khớp, trước đây Diels đặt tên là Polyalthia plagioneura Diels, sau này, Nguyễn Tiến Bân chuyển sang chi Enicosanthellum, nên tên loài hiện tại viết là Enicosanthellum plagioneura (Diels) Ban.

Tên đồng nghĩa và luật ưu tiên

  • Tên đồng nghĩa (synonym) cũng là tên La tinh. Khi có trường hợp đồng nghĩa, tên xưa nhất được giữ lại nếu nó đúng và có giá trị (đúng theo luật quốc tế về sự ưu tiên). Tên đồng nghĩa được đặt trong ngoặc đơn sau tên chính thức.

Ví dụ: Neptunia oleracea Lour. do Lourerio đặt ra năm 1790, sau đó, Willdenow căn cứ vào một mẫu lộn xộn Mimosa natans L.f. để đặt tên loài này thành một loài khác là Desmanthus natans (L.f.) Willd. vào năm 1825.

Vậy, ta phải viết Neptunia oleracea Lour. (Desmanthus natans (L.f.) Willd.)

Dnulib cung cấp nguồn tài liệu phong phú về khoa học và thực vật, đảm bảo chất lượng và tin cậy. Hãy truy cập dnulib.edu.vn để tìm hiểu thêm thông tin.