đốt củi là gì diễn giải đốt củi ma túy là gì

0
32
Rate this post

image

Lò hơi đốt củi là gì?

Lò hơi đốt củi là một loại lò hơi được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp tại Việt Nam. Đây là lựa chọn phù hợp cho các doanh nghiệp sử dụng lượng hơi vừa và nhỏ. Nhiên liệu chủ yếu được sử dụng trong lò hơi đốt củi là củi cây, củi trấu, than cục và các loại nhiên liệu tương tự.

Bạn có thể quan tâm đến khóa học vận hành lò hơi tại Dnulib.

Cấu tạo lò hơi đốt củi

Lò hơi đốt củi bao gồm các thành phần sau: Ống khói, Lò sấy Quạt ly tâm, Tháp hấp thụ, Bồn hóa chất, Bể chứa dung dịch hấp thụ, Bể tuyến nổi. Thân lò hơi đốt củi được cách nhiệt bằng bông thủy tinh và bọc bên ngoài bằng sơn tĩnh điện hoặc inox để đảm bảo tính thẩm mỹ và bền chắc. Vật liệu chế tạo lò là thép chịu nhiệt và áp suất cao. Hệ thống cấp nước và cấp nguyên vật liệu hoạt động tự động với cách thức đốt cháy trên lò cố định, buồng đốt rộng để cháy hoàn toàn và tạo ra hơi bão hoà khô. Lò hơi đốt củi có khả năng phân phối lượng hơi không thay đổi và phù hợp với mọi chính sách tiêu thụ nhiệt. Hiệu suất đốt lên đến 90%. Lò còn được trang bị các hệ thống lọc bụi hiện đại như cyclone đa cấp và tháp lọc bụi ướt hoặc hệ thống lọc bụi khác như bộ lọc dạng túi hay bộ lọc tĩnh điện. Ngoài ra, lò được điều khiển tự động bằng biến tần.

Quy trình vận hành lò hơi đốt củi

Ngày nay, lò hơi đốt củi được sử dụng rộng rãi. Để đảm bảo hiệu suất và an toàn khi sử dụng, quy trình vận hành lò hơi cần được thực hiện đúng chuẩn. Dưới đây là quy trình vận hành lò hơi đốt củi cụ thể:

1. Kiểm tra hệ thống lò

Trước khi đốt lò hơi đốt củi, ta cần kiểm tra các bộ phận sau đây: các loại van, bơm tay hoặc bơm điện, bình cấp nước trung gian, bể chứa nước, mạng lưới hệ thống đường ống đã lắp ráp đúng kỹ thuật. Các van phải được bảo đảm kín và dễ mở đóng. Các thiết bị giám sát và bảo đảm an toàn cần được lắp đặt và hoạt động đúng kỹ thuật. Áp kế phải có vạch chỉ áp suất thao tác tối đa. Ống thuỷ sáng phải có vạch chỉ mức nước trung gian và mức nước cao nhất, mức nước thấp nhất cách mức nước trung bình ± 50 mm. Van an toàn được chỉnh áp suất hoạt động theo quy phạm. Kiểm tra nồi hơi có hiện tượng hư hỏng hay không. Kiểm tra nguồn nước cấp cho nồi hơi đã đầy đủ dự trữ hay chưa. Kiểm tra nguyên vật liệu đốt đã đủ dự trữ và tuân thủ quy cách. Các dụng cụ thao tác và vận hành bao gồm cái xà beng, cái cào nhẹ và cái xẻng phải có sẵn.

2. Nhóm lò

Chuẩn bị nhóm lò bằng cách thực hiện các thao tác sau:

  • Đóng các van xả, van hơi và van an toàn. Mở van xả khí để thoát khí và mở van cấp nước cho lò.
  • Mở van lưu thông với ống thuỷ và mở van ba ngả của áp kế.
  • Bơm nước vào lò cho đến vạch quy định mức thấp nhất của ống thuỷ. Kiểm tra độ kín của các van và mặt bích. Đóng van cấp nước vào lò.
  • Mở van bơm nước vào bình cấp nước trung gian, khi đầy thì đóng lại.
  • Đưa nhiên liệu vào buồng đốt theo phương pháp sau:
    • Nếu đốt củi: Rải một lớp củi khô chẻ nhỏ bên dưới và đặt củi to phía trên.
    • Nếu đốt than: Rải một lớp than mỏng xung quanh buồng đốt, ở giữa phần củi khô.
  • Mở cửa cho than, cửa gió và lá chắn khói để lò được thông gió tự nhiên khoảng 15 phút.

Sau khi nhóm lò, tiến hành nhóm lò bằng cách sử dụng giẻ khô đã tẩm dầu mồi lửa. Đưa giẻ khô vào buồng đốt. Khi củi đã cháy tổng lực và trên mặt ghi lò đã phủ một lớp than nóng, tiếp tục đưa một lớp than mỏng lên trên và đóng cửa lò, cửa gió để gió thổi yếu. Thời gian nhóm lò kéo dài khoảng 40 phút. Khi lò đã open hơi nước, đóng van và kiểm tra thực trạng của các van. Thông rửa ống thuỷ và áp kế khi áp suất hơi từ 1 – 1.5 kG/cm2 và quan sát hoạt động chúng. Khi áp suất lò đạt 2 kG/cm2, dùng cờ lê tay ngắn vặn chặn đai ốc trong vùng lò hơi. Khi áp suất lò đạt mức áp suất thao tác tối đa, kiểm tra hệ thống cấp nước cho lò bằng cách mở van hơi và van nước nối lò và bình cấp nước trung gian, nếu nước được cấp vào lò là bình thường. Nâng áp suất lò lên bằng cách thao tác van an toàn, van an toàn phải hoạt động và kim áp kế sẽ vượt qua vạch đỏ một chút ít. Nhóm lò kết thúc khi áp suất lò đạt mức áp suất giới hạn và kiểm tra hoạt động của lò.

Bạn có thể quan tâm đến quy trình vận hành lò hơi đốt than tại Dnulib.

3. Vận hành lò

Chế độ đốt lò

Trong quá trình cấp hơi, lò phải đảm bảo chính sách đốt, tức là bảo vệ nguyên vật liệu cháy trọn vẹn. Nếu có nhiều khói đen, cần cung cấp thêm gió và tăng sức hút. Nếu không nhìn rõ khói, cần giảm việc cung cấp gió và giảm sức hút. Nếu khói ra có màu xám, đó là chế độ đốt tốt. Khi cho than vào lò, cần rải đều trên mặt ghi và cung cấp từng lượng nhỏ để duy trì đều cháy trên mặt ghi. Cấp than và cào xỉ phải nhanh gọn và sau đó đóng cửa cho than.

Cấp hơi

Khi áp suất trong lò gần tương đương áp suất làm việc tối đa, cần chuẩn bị cấp hơi. Trước khi cấp hơi, mực nước trong lò không nên quá cao. Để cấp hơi, mở van hơi từ từ để làm nóng đường ống dẫn hơi và xả hết nước đọng trên đường ống dẫn hơi khoảng 10 – 15 phút. Trong thời gian quan sát, kiểm tra các hiện tượng co và giãn ống và giá đỡ ống, nếu thông thường, mở hết cỡ van hơi để cấp hơi đi. Mở van hơi từ từ, khi mở đến hết cỡ, xoay ngược lại nửa vòng vô lăng.

Để tránh nước lẫn vào hơi, cấp nước vào lò phải từ từ, không để mực nước trong lò cao hơn mức bình thường theo ống thuỷ.

Cấp nước

Trong quá trình quản lý và vận hành lò, cần duy trì mực nước trong nồi hơi ổn định, không để lò chỉ quản lý và vận hành ở mức thấp nhất hoặc cao nhất. Lò hơi được cấp nước đều đặn bằng bình cấp nước trung gian hoặc bơm tay (hoặc bơm điện). Lò hơi nên trang bị thêm một bơm tay hoặc bơm điện để tăng áp lực nước và lưu lượng nước.

Chế độ xả bẩn

Chế độ xả bẩn của lò phụ thuộc vào chất lượng nước cấp. Số lần xả bẩn trong một ca sẽ được định rõ theo chính sách của từng đơn vị sử dụng lò. Nước cấp càng cứng và độ kiềm càng cao, số lần xả bẩn càng nhiều. Ít nhất trong một ca, cần xả bẩn 2 lần, mỗi lần từ 2 – 3 hồi, mỗi hồi từ 10 – 15 giây. Trước khi xả, cần làm đầy mực nước trong nồi lên mức nước trung bình khoảng 25 – 50 mm theo ống thuỷ. Ống thuỷ cần được thông rửa ít nhất 2 lần trong một ca. Van an toàn cũng cần được kiểm tra một lần trong một ca.

Yêu cầu nước cấp

Nước cấp phải có độ cứng toàn phần không vượt quá 0.5mgđl/lít, PH từ 7 – 10.

4. Ngừng lò

Ngừng lò bình thường

Thực hiện theo trình tự sau: Đóng van cấp hơi và van xả hơi ra ngoài khí quyển bằng cách kênh van an toàn. Giảm dần áp suất của lò xuống và nâng mực nước của lò đến mức cao nhất của ống thuỷ bằng cách thêm nước vào lò. Ngừng cấp than và đóng cửa tro, cửa than. Đóng bớt lá chắn khói. Cho lò nguội từ từ dưới sự giám sát của người quản lý và vận hành lò.

Tháo nước ra khỏi lò hơi để vệ sinh

Tháo nước ra khỏi lò hơi để vệ sinh phải có sự đồng ý của người phụ trách nhà lò hơi và chỉ được tháo nước khi áp suất hơi bằng 0 kg/cm2 và nhiệt độ nước lò 70 – 80°C, đồng thời thực hiện kênh van an toàn lên từ từ.

Ngừng sự cố lò

Thực hiện theo trình tự sau: Chấn dứt cung ứng nguyên vật liệu và không khí, đóng gần trọn vẹn lá chắn khói. Nhanh chóng cào than đang cháy ra khỏi buồng đốt. Sau khi sự cháy đã chấm dứt, đóng hết các cửa van và lá chắn khói lại. Đóng van cấp nước và cấp đầy nước vào lò (nếu là sự cố cạn nước, cấm cấp nước vào lò). Để lò nguội từ từ dưới sự giám sát của người quản lý và vận hành lò. Cấm sử dụng nước để dập lửa trong lò.

5. Bảo dưỡng lò

Nếu lò hơi ngừng vận hành từ 1 tháng trở lên, sử dụng phương pháp bảo dưỡng khô. Nếu lò hơi ngừng vận hành dưới 1 tháng, sử dụng phương pháp bảo dưỡng ướt.

  • Phương pháp bảo dưỡng khô: Sau khi ngừng vận hành, xả hết nước trong lò hơi ra và mở các van. Rửa sạch và sấy khô lò (không đốt lửa to) và mở cửa vệ sinh ống trên thân lò. Đặt viên vôi sống có kích thước từ 10 – 30mm trên các mân nhôm trong nồi hơi. Đóng các cửa van lại. Kiểm tra một lần sau 3 tháng, nếu vôi sống vỡ thành bột, thay mới vôi sống.

  • Phương pháp bảo dưỡng ướt: Sau khi ngừng vận hành lò hơi, xả hết nước trong lò và rửa sạch cấu căn trong lò. Đổ nước đã được xử lý vào lò và đun lò để tăng nhiệt độ nước lò đến 100°C. Mở van an toàn để thoát khí. Đóng lại các van và dập lửa.

6. Vệ sinh và bảo dưỡng lò hơi

Vệ sinh

Chu kỳ vệ sinh cáu cặn trong lò hơi phụ thuộc vào chất lượng nước cấp. Thông thường, vệ sinh bên trong lò được thực hiện từ 3 đến 6 tháng một lần. Vệ sinh bên trong lò được thực hiện bằng phương pháp hoá chất kết hợp với thủ công cơ khí qua cửa vệ sinh ống nước và vệ sinh dưới bụng lò. Dung dịch NaOH có nồng độ 2% được sử dụng để xử lý cáu cặn trong lò. Dung dịch NaOH được đổ vào lò và đun sôi với áp suất từ 0.3 – 0.4 áp suất làm việc trong khoảng từ 12 – 24 giờ hoặc lâu hơn tuỳ vào độ dày của lớp cáu cặn. Sau khi xử lý xong, xả dung dịch NaOH ra khỏi lò, cấp nước để rửa lò và vệ sinh cơ khí. Việc sử dụng hoá chất phải được thực hiện bởi những người có hiểu biết về hoá chất.

Bảo dưỡng

  • Cứ mỗi 1 tháng vận hành, cần kiểm tra lại toàn bộ lò hơi. Chú ý kiểm tra các loại van, ống thuỷ, áp kế và ống sinh hơi có hiện tượng rò rỉ. Kiểm tra xem có tro tích tụ ở cuối lò không, ghi có bị võng hay không, các lớp vữa chịu nhiệt có bị hư hỏng không, án lò có bị cháy không. Nếu có hư hỏng, cần khắc phục hoặc thay thế.
  • Từ 3 đến 6 tháng vận hành, cần ngừng lò để kiểm tra sửa chữa toàn diện và vệ sinh cáu cặn cho lò.
  • Nếu có sự cố lò, cần ngừng lò ngay để sửa chữa nếu có nguy cơ gây tai nạn nghiêm trọng do các bộ phận chịu áp lực hỏng hóc. Việc sửa chữa lò phải tuân thủ đúng tiêu chuẩn và quy phạm về nồi hơi hiện hành.

Bài viết được chỉnh sửa bởi Dnulib.